Ngày xưa, giữa vùng đồng bằng Tây Ninh có một ngọn núi cao sừng sững, người ta gọi là núi Một. Trên đỉnh núi có một pho tượng Phật bằng đá, tương truyền rất linh thiêng. Người khắp nơi rủ nhau lên núi lễ Phật. Đường lên núi hiểm trở, rừng rậm um tùm, cọp beo thường lảng vảng, nên khách hành hương phải đi từng đoàn đông, mang theo đuốc và gậy gộc. Vậy mà quanh năm, núi chẳng lúc nào vắng tiếng chuông, khói hương.
Ở đất Trảng Bàng có một cô gái tên là Lý Thị Thiên Hương. Nàng giỏi văn, lại giỏi cả võ nghệ, tính tình hiền hậu, nết na. Từ nhỏ nàng đã có làn da ngăm đen, nhưng càng lớn càng xinh đẹp, nụ cười tươi tắn, đôi mắt sáng trong. Nàng một lòng sùng kính Phật. Cứ đến ngày rằm, nàng lại theo đoàn hành hương lên núi Một thắp hương lễ Phật, cầu cho cha mẹ bình an, cho dân làng no ấm.
Trong vùng có chàng trai tên là Lê Sĩ Triệt, mồ côi từ nhỏ, được một nhà sư nuôi nấng và dạy võ nghệ. Chàng thầm yêu Thiên Hương từ lâu mà không dám ngỏ. Bấy giờ có một tên quan cậy quyền cậy thế, thấy Thiên Hương xinh đẹp, muốn bắt nàng về làm hầu thiếp. Hắn sai một tên võ sư dữ tợn rình đánh cướp nàng. Thiên Hương chống cự, nhưng sức không địch nổi. Đúng lúc ấy, Sĩ Triệt xông ra, đánh đuổi tên võ sư, cứu nàng thoát nạn.
Về nhà, Thiên Hương kể lại mọi chuyện với cha mẹ. Cảm phục người con trai vừa có võ nghệ, vừa có tấm lòng ngay thẳng, cha mẹ nàng bằng lòng gả nàng cho Sĩ Triệt. Đôi trẻ mừng rỡ, cùng nhau lên núi thắp hương tạ ơn Phật. Hai họ chọn ngày lành tháng tốt để làm lễ cưới. Cả làng ai cũng mừng cho đôi uyên ương, kẻ văn võ song toàn, người giỏi giang, nết na.
Ngày cưới chưa kịp đến thì có lệnh của tướng Võ Tánh chiêu mộ trai tráng, theo chúa Nguyễn Ánh đi đánh Tây Sơn. Sĩ Triệt là trai có võ nghệ, lập tức xin tòng quân. Trước lúc lên đường, chàng nắm tay Thiên Hương: Đợi anh trở về, mình sẽ làm đám cưới. Nàng gạt nước mắt, gật đầu: Em sẽ đợi, dù bao lâu cũng đợi. Rồi chàng theo đoàn quân đi xa, nàng đứng nhìn theo cho đến khi bóng chàng khuất hẳn sau rặng cây.
Thiên Hương ở nhà ngày ngày ngóng tin chồng chưa cưới, rằm nào cũng lên núi cầu cho chàng được bình an. Một lần, nàng đang lễ Phật trên núi thì bị một bọn cướp vây bắt. Nàng vùng chạy, băng qua những lối mòn hiểm trở, lẩn sâu vào rừng già. Bọn cướp đuổi theo, lùng sục khắp núi mà không tìm thấy. Từ hôm ấy, chẳng ai còn thấy Thiên Hương đâu nữa. Cha mẹ nàng khóc cạn nước mắt, người làng đi tìm khắp các hang đá, khe suối, mà vẫn bặt tăm.
Nhiều năm sau, đến đời vua Minh Mạng, có một vị sư trụ trì ngôi chùa trên núi. Một đêm đang ngồi thiền, sư thấy một người con gái da đen mà đẹp lạ hiện ra trước mặt. Nàng chắp tay thưa: Con là Thiên Hương. Năm mười tám tuổi, con chạy trốn bọn cướp, sa xuống hố sâu mà chết. Nay con đã thoát tục, xin thầy tìm hài cốt con ở sườn núi phía đông nam, đem chôn cất cho yên. Sư theo lời, tìm đến nơi, quả nhiên thấy hài cốt nàng, bèn đem về an táng tử tế.
Chuyện lan khắp vùng, đến tai quan Tả quân Lê Văn Duyệt. Ông thân hành lên núi xem cho rõ thực hư. Ông khấn: Nếu nàng quả linh thiêng, xin cho ta một điềm rõ ràng, ta sẽ tâu vua phong tặng. Bỗng một cô gái trong đám người đi theo ngã lăn ra, rồi ngồi dậy, cất giọng khác hẳn, xưng là Thiên Hương. Nàng khóc kể nỗi oan khuất của mình, kể rằng Sĩ Triệt đã tử tiết cùng tướng Võ Tánh khi thành Bình Định thất thủ, nay được phong làm thần. Hai người hẹn kiếp này giữ trọn đạo tu hành, để nàng được trở lại trần gian cứu giúp người đời.
Nói xong, cô gái ngất đi hồi lâu mới tỉnh lại, chẳng nhớ gì. Lê Văn Duyệt cảm động, thay mặt nhà vua phong cho Lý Thị Thiên Hương danh hiệu Linh Sơn Thánh Mẫu, cho được ngự trên núi. Từ đó, người ta gọi núi Một là núi Bà, rồi vì nhớ làn da ngăm của nàng mà gọi là núi Bà Đen. Ngày nay, mỗi độ xuân về, hàng vạn người vẫn lên núi thắp hương. Ai đứng trên đỉnh núi nhìn xuống đồng bằng mênh mông, cũng nhớ đến nàng con gái Trảng Bàng chung thủy và một mối tình dang dở giữa thời binh lửa.