Ngày xưa, có hai vợ chồng nghèo, chồng tên là Trọng Cao, vợ tên là Thị Nhi. Hai người lấy nhau đã lâu mà không có con. Ngày ngày ra đồng làm lụng, tối về căn nhà tranh vắng tiếng trẻ, lòng ai cũng buồn. Nỗi buồn lâu ngày sinh ra cáu bẳn. Trọng Cao tính vốn nóng nảy, hễ có chuyện không vừa ý là gắt gỏng với vợ. Thị Nhi thì tủi phận, nhiều đêm ngồi một mình bên bếp lửa mà khóc. Ngôi nhà nhỏ ngày một vắng tiếng cười.
Một hôm, chỉ vì một chuyện nhỏ, Trọng Cao nổi giận, đánh vợ một trận. Thị Nhi đau lòng, nghĩ mình chẳng còn chỗ dựa, bèn bỏ nhà ra đi. Nàng đi mãi, đến một làng khác, không người thân thích, phải đi làm thuê sống qua ngày. Ở làng ấy có một người đàn ông hiền lành tên là Phạm Lang, chăm làm ruộng và đi săn. Thấy nàng hiền thục, siêng năng, Phạm Lang thương mến, ngỏ lời. Thị Nhi nghĩ duyên cũ đã đứt, bèn nhận lời làm vợ Phạm Lang. Hai người sống với nhau đầm ấm, hòa thuận.
Vợ đi rồi, Trọng Cao mới biết mình sai. Căn nhà không có vợ lạnh lẽo, bữa cơm không người dọn, đêm về chẳng ai thắp đèn. Chàng ân hận vô cùng, bỏ cả ruộng nương, đi khắp nơi tìm vợ. Đi hết làng này sang làng khác, tiền lưng cạn dần, áo quần rách rưới, Trọng Cao phải đi ăn xin mà sống. Nhưng chàng vẫn không thôi tìm, chỉ mong gặp lại vợ để nói một lời xin lỗi.
Một hôm, Trọng Cao đi xin ăn đến một nhà nọ đúng lúc Phạm Lang vắng nhà, đi săn chưa về. Người đàn bà ra cửa, nhìn kẻ ăn mày thì sững sờ: chính là chồng cũ của mình. Trọng Cao cũng nhận ra vợ. Hai người nhìn nhau rưng rưng. Thị Nhi mời Trọng Cao vào nhà, dọn cơm cho ăn. Trọng Cao kể chuyện mình hối hận, bỏ nhà đi tìm vợ thế nào. Thị Nhi nghe mà thương xót, nhưng giờ nàng đã là vợ người khác, chẳng biết làm sao.
Đang lúc ấy, nghe tiếng Phạm Lang đi săn về ngoài ngõ. Thị Nhi sợ chồng thấy người lạ trong nhà mà sinh nghi, vội bảo Trọng Cao ra nấp vào đống rơm sau nhà. Phạm Lang vào, nghỉ ngơi một lát rồi nói: Ruộng sắp cấy, phải có tro bón. Nói đoạn, chàng ra sau nhà châm lửa đốt đống rơm. Thị Nhi chưa kịp nói gì thì lửa đã bén, rơm khô cháy bùng lên. Trọng Cao nằm trong đống rơm, không kịp chạy ra.
Thị Nhi thấy chồng cũ vì mình mà lâm nạn, đau đớn khôn cùng. Nàng nghĩ: Người ấy vì ta mà tìm đến, nay vì ta mà chết. Rồi nàng lao mình vào đống lửa. Phạm Lang thấy vợ nhảy vào lửa, không hiểu đầu đuôi ra sao, chỉ biết thương vợ, cũng lao theo. Lửa bốc cao, ngọn rơm cháy rực một góc trời. Đến khi tàn lửa, cả ba người không ai còn sống. Người làng kéo đến, không hiểu vì sao, chỉ biết thở dài thương cảm.
Hồn ba người bay lên trời. Ngọc Hoàng hỏi đầu đuôi, nghe xong rất cảm động. Một người chồng biết hối lỗi, một người vợ trọng tình nghĩa, một người chồng sau hết lòng vì vợ. Ba người không ai có tội, chỉ vì tình nghĩa mà cùng nhau chết. Ngọc Hoàng phán: Ba người sống có tình có nghĩa, chết cũng không rời nhau. Nay cho cùng làm thần, coi việc bếp núc cho mọi nhà.
Từ đó, ba người hóa làm Táo quân, ai nấy giữ một việc. Phạm Lang làm Thổ Công, trông coi việc bếp. Trọng Cao làm Thổ Địa, trông coi việc nhà. Thị Nhi làm Thổ Kỳ, trông coi việc chợ búa. Người đời gọi chung là Táo quân, hai ông một bà. Dưới gian bếp mỗi nhà, ba hòn đầu rau kê nồi, chụm lại nâng niêu cơm, cũng là ba người không bao giờ rời nhau, ngày ngày giữ ấm bếp lửa cho con cháu.
Mỗi năm, đến ngày hai mươi ba tháng Chạp, Táo quân lại cưỡi cá chép bay về trời, tâu với Ngọc Hoàng mọi việc tốt xấu trong nhà suốt một năm qua. Vì vậy, đến ngày ấy, nhà nào cũng sắm sửa mâm cỗ, mũ ông Công hai chiếc, mũ bà một chiếc, cùng mấy con cá chép sống thả xuống ao, xuống sông, để ông bà có ngựa mà đi. Đến đêm giao thừa, Táo quân trở về, lại tiếp tục giữ bếp lửa cho mọi nhà.
Chuyện Táo quân được người đời truyền lại từ bao đời nay. Người ta bảo, có bếp là có lửa, có lửa là có nhà, có nhà là có tình nghĩa vợ chồng. Ngọn lửa trong bếp, cũng như tình người, phải giữ cho ấm, đừng để tắt. Ai giận hờn rồi cũng nên biết lỗi, biết thương nhau trước khi quá muộn, kẻo lại như Trọng Cao, đến lúc ăn năn thì người xưa đã chẳng còn ở bên mình.