Ở làng Tả Ao, huyện Nghi Xuân, xứ Nghệ An, có một người tên là Nguyễn Đức Huyên. Người đời lấy tên làng mà gọi ông là Tả Ao. Thuở trẻ, nhà ông nghèo xác xơ, mẹ lại mắc bệnh mắt, mờ dần rồi gần như loà hẳn. Thương mẹ, chàng trai nghèo xin theo một người khách buôn ở phố Phù Thạch sang tận bên Tàu, mong tìm được thuốc chữa mắt cho mẹ. Ông thầy thuốc bên ấy thấy chàng có lòng hiếu thảo, quý lắm, bèn đem nghề làm thuốc ra dạy cho.
Học thành nghề, Tả Ao toan trở về nước. Vừa lúc ấy, có một ông thầy địa lý chính tông bị đau mắt, cho người sang mời thầy thuốc. Thầy thuốc già yếu không đi nổi, bèn sai Tả Ao đi chữa thay. Mắt khỏi, thầy địa lý vừa mang ơn, vừa thấy chàng trai người nước Nam này sáng ý, dễ dạy, liền đem phép xem đất truyền lại cho. Tả Ao chuyên tâm theo học, chỉ hơn một năm đã giỏi.
Thầy muốn thử xem sức học của trò đến đâu, bèn đổ cát đắp thành hình sông núi, lén vùi một trăm đồng tiền xuống dưới cát. Rồi thầy đưa cho Tả Ao một trăm cái kim, bảo hãy tìm huyệt mà cắm, sao cho mỗi kim lọt đúng vào lỗ một đồng tiền. Tả Ao lặng lẽ ngắm thế đất, rồi cắm từng cái một. Đào lên xem: chín mươi chín cái kim lọt đúng chín mươi chín lỗ tiền, chỉ một cái lệch ra ngoài. Thầy địa lý thở dài: “Thế là nghề của ta đã theo người sang phương Nam rồi!”
Thầy trao cho Tả Ao một cái tróc long, đồ nghề để dò long mạch, cùng những câu thần chú gọi thần đất, rồi cho về nước Nam. Tả Ao từ biệt thầy, vượt đường xa trở về. May sao mẹ vẫn còn khoẻ. Chàng đem thuốc đã học ra chữa, mắt mẹ sáng lại như xưa.
Một lần đi qua núi Hồng Lĩnh, Tả Ao ngước nhìn thế núi, thấy chín dải núi uốn khúc chầu về một chỗ, đúng kiểu đất “chín rồng tranh ngọc”. Ông mừng rỡ kêu lên: “Huyệt đế vương ở đây rồi!” Lập tức ông bốc mộ cha, đem cất vào huyệt trên núi. Chẳng bao lâu sau, vợ ông sinh được một đứa con trai.
Bên Tàu, các nhà xem thiên văn thấy các vì sao đều chầu cả về phương Nam, biết là người nước Nam đã được đất quý. Triều đình bên ấy liền ra lệnh: thầy địa lý nào đã để đất hay dạy nghề cho người An Nam thì phải sang tận nơi dùng phép phá đi, nếu không sẽ bị giết cả ba họ. Ông thầy cũ biết chắc là Tả Ao, bèn sai con trai sang tìm. Người ấy đến chơi nhà, ngọt ngào hỏi: “Từ ngày đại huynh về nước, đã tìm được chỗ đất nào cho mồ mả tổ tiên chưa?” Tả Ao thật thà kể hết. Con thầy Tàu dùng mẹo đào ngôi mộ lên, lại bắt luôn đứa con của Tả Ao đem về Tàu.
Ít lâu sau, mẹ Tả Ao qua đời. Ông tìm được một ngôi đất ở ngoài bãi bể, kén ngày kén giờ để hạ huyệt. Đúng giờ, sóng gió nổi lên ầm ầm. Người anh của Tả Ao sợ hãi, cứ giữ chặt lấy áo quan của mẹ, không cho hạ xuống. Một lát sau sóng gió lặng, chỗ ấy đã bồi lên thành bãi cát. Tả Ao than: “Đây là hàm rồng, năm trăm năm mới há miệng một lần, mà chỉ há trong một lát. Nay đã ngậm lại rồi, còn táng sao được nữa. Trời không cho, ta chỉ uổng công mà thôi!”
Từ đấy Tả Ao chẳng thiết làm ăn gì, chỉ lang thang khắp nơi tìm đất cho người. Đến làng Bút Sơn, huyện Hoằng Hoá, ông thấy một huyệt rất tốt, bèn bảo: “Ai táng ngôi này từ giờ Dần đến giờ Mão thì phát ngay, chỉ xin chia cho ta một phần mười.” Có người xin táng. Tả Ao dặn sớm mai mới được cất. Táng xong, mặt trời vừa mọc, người ấy vác cuốc ra sông rửa chân, thấy một người chết trôi, nhân có cuốc bèn vớt lên chôn cho tử tế. Trong bọc người chết có hai túi bạc, đếm được năm mươi nén. Người ấy mới phục tài Tả Ao, biếu ông năm nén.
Đến huyện Thanh Liêm, ông lại tìm được một ngôi đất, bảo rằng táng xong chỉ trong một tháng sẽ phát làm quận công, ai trả một trăm quan tiền thì ông táng cho. Một nhà giàu xin táng. Bấy giờ chúa Trịnh đang đánh nhà Mạc. Tướng Mạc là Mạc Kính Độ thua trận ở Kim Bảng phải chạy trốn, chúa Trịnh hứa ai bắt được sẽ phong quận công. Táng được hai mươi ngày, bỗng có người vào nhà bảo: “Ta là Mạc Kính Độ đây. Cho ta ăn một bữa no, ta sẽ để ông trói đem nộp lấy thưởng.” Ăn xong, ông ta chịu trói. Nhà giàu được phong quận công, đem một trăm quan đến tạ, Tả Ao chỉ lấy ba quan làm lộ phí rồi đi.
Từ đó tiếng tăm Tả Ao vang khắp thiên hạ. Hai mươi năm trời ông đi khắp các huyện Gia Bình, Từ Liêm, Đông Ngạn, Siêu Loại, Gia Lâm. Táng cho nhà nào, nhà ấy cũng phát: lớn thì đỗ tiến sĩ, làm thượng thư, nhỏ cũng giàu có nhất vùng. Đến làng Thiên Mỗ, ông thấy một ngôi đất lớn, định táng cho nhà họ Trần. Vừa đặt tróc long xuống, nó đổ nhào, đặt lại, ba lần đều đổ. Ông niệm chú gọi thổ thần lên hỏi. Thần bảo: “Đất này trời đã để dành cho họ Nguyễn. Họ Trần ít phúc, không kham nổi. Ông cố cưỡng ý trời ắt mang vạ. Vả lại ông làm phúc cho thiên hạ bao nhiêu, mà đã được ngôi nào cho cha mẹ mình đâu, nghĩ thế mà xem.” Từ ấy Tả Ao không dám coi nhẹ việc để đất cho ai nữa.
Tả Ao có hai con trai. Ông làm đất cho người không lấy tiền, nên nhà vẫn nghèo, con cái nhiều bữa không đủ ăn. Về già, ông tìm sẵn cho mình một ngôi đất ở xứ đồng khoai, kiểu “một con chó đuổi đàn dê”, táng vào thì chỉ ba ngày sẽ thành địa tiên. Lúc lâm bệnh, ông bảo hai con khiêng ra đấy để tự nằm xuống huyệt. Nhưng đi được nửa đường, ông đã gần tắt thở, biết không kịp nữa, bèn trỏ một cái gò bên đường dặn con: “Chỗ kia là đất được người ta thờ cúng, bất đắc dĩ táng ở đấy cũng được.” Nói xong ông mất, năm ấy sáu mươi lăm tuổi. Về sau ông thành phúc thần của một làng. Thầy địa lý giỏi nhất nước Nam chỉ làm phúc được cho người, còn mình thì chịu nghèo. Thế mới biết ông cha dạy phải tích phúc trước, rồi hãy tìm long mạch sau.