Trên thiên đình, Ngọc Hoàng có người con gái thứ hai là công chúa Quỳnh Hoa, xinh đẹp, giỏi đàn hát, được vua cha yêu quý nhất. Một hôm trong tiệc chầu, công chúa đang dâng rượu thì lỡ tay đánh rơi chiếc chén ngọc. Chén vỡ tan thành nhiều mảnh. Luật trời nghiêm ngặt, dù là con gái yêu cũng không được tha. Ngọc Hoàng buồn lòng, phạt công chúa phải xuống trần gian sống một kiếp người cho đủ hạn. Công chúa cúi đầu nhận tội, lặng lẽ rời cung trời, bay xuống cõi đất xa xôi.
Ở làng Vân Cát, phủ Thiên Bản, trấn Sơn Nam, có ông bà họ Lê hiền lành, đã ngoài bốn mươi tuổi mà chưa có con. Một đêm, vợ ông mơ thấy một nàng tiên bay vào nhà, ít lâu sau thì có mang. Đến ngày sinh, nhà ông hương thơm ngào ngạt, có ánh sáng đỏ bao quanh. Ông bà sinh được một bé gái, đặt tên là Giáng Tiên, nghĩa là tiên giáng trần. Cô bé lớn lên càng xinh đẹp, lại giỏi thơ văn, đàn sáo, hiếu thảo với cha mẹ, ai gặp cũng mến. Không ai biết cô chính là công chúa Quỳnh Hoa trên trời.
Đến tuổi cài trâm, Giáng Tiên được gả cho Đào Lang, con trai một nhà lương thiện trong vùng. Đào Lang học hành chăm chỉ, tính tình hiền hậu. Vợ chồng thương yêu nhau, ngày ngày nàng dệt vải, chàng đọc sách bên cửa sổ, tối đến cùng nhau ngâm thơ, gảy đàn. Ít năm sau, hai người có một mụn con, cả nhà vui vẻ đầm ấm. Nàng chăm lo nhà chồng chu đáo, đối với cha mẹ hai bên đều một lòng hiếu kính. Người làng nhìn vào, ai cũng khen đôi vợ chồng xứng đôi như ngọc với vàng.
Nhưng hạn đày của nàng đã đến. Năm hai mươi mốt tuổi, vào ngày mùng ba tháng ba, Giáng Tiên không ốm đau gì mà bỗng nhiên qua đời. Cả nhà khóc thương thảm thiết, Đào Lang ôm con ngồi bên linh sàng mấy ngày không ăn không ngủ. Nàng đã trở về thiên đình. Ngọc Hoàng cho nàng lại làm công chúa như xưa. Nhưng ngồi giữa cung vàng điện ngọc, nàng không vui. Nàng nhớ mẹ cha già, nhớ người chồng hiền, nhớ đứa con thơ còn đỏ hỏn, nhớ cả mùi khói bếp làng Vân Cát. Ngày nào nàng cũng nhìn xuống trần gian mà rơi nước mắt.
Thấy con buồn mãi, Ngọc Hoàng đành cho nàng xuống trần gian lần nữa, được tự do đi lại, không phải chịu kiếp người như trước. Nàng mừng rỡ bay ngay về làng Vân Cát. Đêm trăng, nàng hiện về bên chồng con, an ủi cha mẹ già. Nàng kể cho Đào Lang biết mình vốn là người nhà trời, dặn chàng giữ gìn sức khỏe, nuôi con khôn lớn, chăm sóc hai bên nội ngoại. Nói xong, nàng hóa thành làn gió mát bay đi. Từ đó nàng thường hiện về thăm nhà, rồi chu du khắp nơi, ngắm cảnh non sông.
Một lần ở xứ Lạng Sơn, trên đường đi sứ, quan Phùng Khắc Khoan dừng chân bên một quán nước ven đèo. Ông thấy một người con gái xinh đẹp ngồi bên bờ suối, ngâm thơ trong trẻo. Ông lấy làm lạ, đến hỏi chuyện, đề thơ thử tài. Nàng đối lại ngay, câu nào cũng sắc sảo, ý tứ sâu xa, khiến ông phục lăn. Ông hỏi tên, nàng chỉ mỉm cười rồi biến mất. Mãi về sau, khi ông cùng hai người bạn đi chơi Hồ Tây, lại gặp nàng ở một quán rượu bên hồ. Cả bọn xướng họa thơ suốt buổi chiều. Lúc chia tay, nàng mới để lại mấy câu thơ chiết tự, ông ngẫm ra thì đó là tên Liễu Hạnh.
Đào Lang về sau qua đời, đầu thai làm một chàng trai họ Mai ở xứ Thanh. Liễu Hạnh biết chuyện, tìm đến nối lại duyên xưa. Nàng hiện ra như một người con gái bình thường, kết duyên với Mai Sinh, giúp chàng chăm lo đèn sách. Hai người sống với nhau, sinh được một người con trai. Khi Mai Sinh đã đỗ đạt, con đã lớn, nàng mới nói thật mình là ai, rồi từ biệt mà đi. Chuyện tình hai kiếp của nàng làm người đời cảm động, vì trên trời dù sung sướng, nàng vẫn không quên nghĩa vợ chồng nơi trần thế.
Từ đó nàng hiển linh ở nhiều nơi, nhất là ở Phố Cát, đèo Ba Dội, xứ Thanh. Nàng hiện thành một cô gái bán hàng nước bên đường. Người lương thiện qua lại thì được nàng giúp đỡ, chữa bệnh, chỉ đường. Kẻ ngông cuồng buông lời trêu ghẹo, kẻ gian tham cướp giật thì bị nàng trừng phạt, kẻ thì đau ốm, kẻ thì gặp tai họa. Dân trong vùng vừa kính vừa sợ, lập đền thờ nàng. Tiếng đồn lan đi khắp nơi, người đến cầu xin ngày càng đông, hương khói không lúc nào ngớt.
Tiếng nàng làm triều đình lo ngại, cho là yêu quái làm hại dân. Vua sai quân lính cùng các pháp sư cao tay đến đánh đuổi. Trận đấu phép diễn ra suốt nhiều ngày, gió cát mù mịt. Cuối cùng các pháp sư dùng phép mạnh bắt được nàng. Nàng không oán hận, chỉ xin được giãi bày rằng mình chưa từng hại người lương thiện, chỉ trừng trị kẻ gian ác. Có lời khuyên giải từ cửa Phật, triều đình hiểu ra, tha cho nàng, lại sắc phong tước hiệu, cho dựng đền thờ lớn. Từ đó người Việt tôn nàng là Thánh Mẫu Liễu Hạnh, một trong Tứ bất tử, cùng với Tản Viên, Thánh Gióng và Chử Đồng Tử. Phủ Giầy ở Vân Cát và đền Sòng ở Phố Cát đến nay vẫn tấp nập người đến dâng hương mỗi mùa lễ hội.