Ngày xưa ở nước Tống có nàng Thoại Khanh, con gái một vị thừa tướng. Cha mẹ mất sớm, gia sản tiêu tan, nàng sống côi cút mà vẫn giữ nết con nhà gia giáo. Cùng xóm có chàng thư sinh Châu Tuấn, nhà nghèo, chỉ còn một mẹ già, nhưng học rộng, tính ngay thẳng. Hai người gặp nhau, thương cái nghèo của nhau, quý cái nết của nhau, rồi nên vợ nên chồng. Đám cưới chỉ có đôi nến và mâm trầu, mà ai nhìn vào cũng thấy ấm. Thoại Khanh về làm dâu, sớm hôm hầu mẹ chồng như mẹ đẻ. Bà cụ thường bảo với hàng xóm: Tôi già rồi mới có thêm một đứa con gái.
Châu Tuấn đi thi, đỗ cao, được vào triều làm quan. Công chúa nhà vua thấy chàng tuấn tú, ngỏ ý muốn lấy làm chồng. Vua cho gọi Châu Tuấn vào, phán: Trẫm gả công chúa cho khanh, khanh về bỏ vợ cũ đi. Châu Tuấn cúi đầu tâu: Thần có vợ từ thuở hàn vi, nàng ăn rau ăn cháo với thần, nuôi mẹ già thay thần. Bỏ người như thế thì thần còn mặt mũi nào đứng giữa triều đình. Vua giận vì bị trái lệnh, công chúa thì tủi hổ. Không giết được người ngay, vua bèn đày chàng sang làm sứ ở một nước xa, hạn mười bảy năm mới được trở về.
Ngày chồng ra đi, Thoại Khanh ôm mẹ chồng đứng ở đầu làng nhìn theo cho đến khi bóng người khuất hẳn. Ở nước người, Châu Tuấn bị giữ lại, bị ép phải lấy công chúa nước ấy, sống như một kẻ bị giam lỏng, đêm nào cũng ngóng về quê. Còn ở nhà, chẳng còn bổng lộc gì nữa. Thoại Khanh đi làm thuê, giã gạo, dệt vải, mò cua bắt ốc, được bát cơm trắng thì để phần mẹ, mình ăn khoai ăn sắn. Mùa đông, nàng lấy áo mình đắp thêm cho mẹ. Năm tháng cứ thế trôi, tóc mẹ chồng bạc trắng, đôi tay con dâu chai sạn. Một ngày, bà cụ nắm tay nàng mà nói: Mẹ chỉ mong được thấy mặt con trai một lần trước khi nhắm mắt.
Nghe mẹ nói vậy, Thoại Khanh quyết đi tìm chồng. Nàng gói mấy bộ áo cũ, ít gạo rang, cõng mẹ chồng lên lưng mà đi. Đường sang nước kia xa vạn dặm, phải qua rừng sâu, núi cao, suối độc. Ngày nàng đi, đêm nàng tìm gốc cây hay mái miếu hoang cho mẹ nằm, còn mình ngồi canh lửa. Gặp suối, nàng lội trước dò đường rồi mới quay lại cõng mẹ qua. Gặp nhà dân, nàng xin chút cơm, chút nước, lại kể chuyện chồng mình, ai nghe cũng thương. Có người khuyên nàng để mẹ ở lại cho nhẹ gánh. Nàng lắc đầu: Mẹ đi tìm con, con dâu đi tìm chồng, sao lại bỏ nhau giữa đường được.
Đi tới giữa rừng thì hết sạch lương ăn. Mấy ngày liền chỉ có rau dại, nước suối. Bà mẹ chồng kiệt sức, nằm lả đi, môi khô nứt, gọi không còn thưa. Thoại Khanh cuống quýt tìm khắp rừng mà không có gì ăn được. Nhìn mẹ thoi thóp, nàng nghiến răng, cầm con dao nhỏ, cắt một miếng thịt trên cánh tay mình, đem nấu với nắm gạo cuối cùng thành bát cháo. Nàng lấy vải buộc tay lại, rồi đút từng thìa cho mẹ. Bà cụ ăn xong thì tỉnh lại, hỏi: Thịt ở đâu ra mà ngọt thế con? Nàng chỉ cười, bảo là thịt chim rừng bẫy được. Phải mấy hôm sau, thấy vết vải thấm đỏ trên tay con dâu, bà mới hiểu, ôm nàng mà khóc.
Ra khỏi rừng, hai mẹ con đi ngang một ngôi miếu cổ, nơi thờ một vị ác thần quen bắt người qua đường. Vừa đặt chân tới, gió nổi ầm ầm, có tiếng nói rít lên trong miếu: Kẻ nào qua đây phải nộp mạng. Bà cụ sợ hãi ngã quỵ. Thoại Khanh vội quỳ xuống, khấn: Xin ngài tha cho mẹ con. Nếu ngài cần, con xin dâng đôi mắt của con, chỉ mong mẹ con được sống để gặp con trai. Trong miếu bỗng im bặt. Một lúc lâu, giọng kia dịu lại: Ta đi qua bao đời người, chưa thấy nàng dâu nào như thế. Thôi, đi đi. Gió lặng, mây tan, con đường phía trước sáng ra như được ai quét dọn.
Ở nước người, Châu Tuấn tuy được ăn sung mặc sướng mà lòng chẳng lúc nào yên. Chiều chiều, chàng đứng trên lầu cao nhìn về phương nam, đếm từng đàn chim bay qua. Nàng công chúa nước ấy thấy chồng buồn mãi, hỏi mãi mới biết chuyện người vợ cũ và bà mẹ già ở quê. Nghe chàng kể Thoại Khanh nhịn ăn nuôi mẹ, công chúa lặng đi một lúc rồi nói: Một người vợ như thế, thiếp không dám tranh. Nàng bắt đầu khuyên vua cha nới tay, cho chàng được đi lại, được dò tin quê nhà. Còn Châu Tuấn thì ngày nào cũng sai người ra cửa ải, hỏi những kẻ từ phương nam tới xem có tin gì không.
Một chiều, lính gác cửa ải báo có một người đàn bà rách rưới cõng một bà già, hỏi tìm sứ thần tên là Châu Tuấn. Chàng chạy như bay ra cổng. Nhìn thấy mẹ, chàng quỳ sụp xuống. Nhìn sang vợ, gầy guộc, tóc rối, tay còn buộc mảnh vải cũ, chàng không nói nên lời. Bà cụ nắm tay con mà kể: Mẹ sống được tới hôm nay là nhờ vợ con, nó lấy cả thịt mình nuôi mẹ. Cả cửa ải lặng đi. Nàng công chúa nước ấy bước tới, cúi chào Thoại Khanh như chào chị. Tin lan tới tai vua nước ấy, vua cũng phải cảm phục, cho cả nhà được trở về nước Tống, lại sai đưa tiễn thật trọng hậu.
Về tới nước nhà, chuyện người con dâu cắt thịt nuôi mẹ, xin dâng mắt cứu mẹ đã truyền khắp nơi. Vua nước Tống nghe được thì hối hận vì đã đày một người trung hậu, công chúa nước Tống cũng tự thấy mình hẹp lòng. Về sau, Châu Tuấn được tôn lên ngôi vua, trị nước công bằng, thương dân như thương mẹ mình. Thoại Khanh làm hoàng hậu mà vẫn tự tay sắc thuốc cho mẹ chồng mỗi sáng. Hai nàng công chúa cũng phục đức nàng, sống với nhau thuận hòa. Bà mẹ già sống đến tận lúc tóc không còn sợi đen nào, được con cháu quây quần. Người xưa kể chuyện này mà bảo nhau: hiếu với mẹ, nghĩa với chồng, thì đến trời đất quỷ thần cũng phải nể.