Đất Thanh Hóa núi non trùng điệp, kéo dài mấy nghìn dặm. Giữa vùng ấy có một ngọn núi cao chót vót tên là núi Na. Trong núi có một cái động dài và hẹp, đường vào hiểm trở, bụi trần không bám tới, chân người hiếm khi đặt đến. Ấy vậy mà ngày ngày lại có một người tiều phu gánh củi từ trong động đi ra. Ông đem củi đổi lấy ít cá, ít rượu, chỉ cần được no say, chẳng lấy của ai một đồng. Gặp ông già trẻ nhỏ dưới đồng bằng, ông vui vẻ bàn chuyện trồng dâu, trồng gai. Ai hỏi tên tuổi, nhà cửa, ông chỉ cười mà không đáp. Khi mặt trời gác núi, ông lại thong thả gánh gánh không trở về động.
Năm Khai Đại đời nhà Hồ, Hồ Hán Thương đi săn qua vùng ấy, giữa đường gặp ông tiều phu vừa đi vừa cất tiếng hát. Bài hát kể rằng núi Na đá dựng chênh vênh, cây xanh um, khói lãng đãng, suối róc rách; sáng ta đi, chiều ta về, áo kết bằng lá, dây đeo kết bằng hoa lan. Mặc kệ chợ búa triều đình, mặc kệ xe ngựa võng lọng, bụi trần không vương tới non sông này. Khanh tướng xưa nay, công danh hiển hách đến đâu, rồi cũng thành tấm bia đá rêu phủ mờ. Sao bằng ta lắc đầu tỉnh giấc, mặt trời đã cao ba con sào. Hát xong, ông phất tay áo đi thẳng, chẳng thèm ngoái nhìn đoàn xe vua.
Hán Thương đoán chắc đây là một bậc ẩn sĩ, bèn sai viên quan hầu là Trương Cung phụng đuổi theo mời về. Trương gần đuổi kịp thì ông tiều phu đã rảo bước vào động. Gọi to, ông không đáp, chỉ thấy bóng ông lướt đi thoăn thoắt giữa những cành tùng khóm trúc, như cưỡi mây rẽ khói. Biết không phải người thường, Trương rón rén theo sau, rẽ cỏ mà đi, được chừng vài dặm. Đường núi càng vào càng gập ghềnh, rồi thoắt một cái, bóng người đã mất hút. Ngẩng lên, mặt trời đã gác đầu non, cây cỏ mờ dần vào bóng tối. Trương bàng hoàng muốn quay về mà không kịp nữa. Bỗng đâu trên một lùm trúc vẳng ra tiếng gà gáy. Trương mừng rỡ: “Có tiếng gà, ắt nhà người ở không xa.”
Trương chống gậy trèo lên, thấy một am cỏ nhỏ. Hai bên trồng mấy cây kim tiền, xen lẫn bích đào, hồng hạnh, cây nào cũng xanh tươi. Trong am có chiếc giường mây, trên giường để cây đàn, ống sáo và chiếc gối tựa. Hai bên vách quét vôi trắng, đề hai bài ca. Một bài ca ngợi cái thú ngủ: gối đầu bên mây, bưng tai trước chuyện đời, ai chê là đồ lười cũng mặc. Một bài ca ngợi cái thú đánh cờ: xe ngựa rong ruổi trên bàn cờ, thắng thua cả giang sơn mà quên hết công danh. Ông tiều phu đang ngồi trên hiên đá, dạy con chim yểng tập nói, bên cạnh mấy đứa trẻ ngồi đánh cờ. Thấy Trương, ông ngạc nhiên: “Rừng sâu núi thẳm, sao ông lại lần mò tới đây, chẳng vất vả lắm ư?”
Trương thưa: “Tôi là quan Cung phụng của triều đình. Vì ngài là bậc cao sĩ, tôi vâng mệnh đến mời ngài ra. Xe vua đang đợi ngoài kia.” Ông tiều phu cười: “Ta là kẻ trốn đời, ông già lánh bụi. Sống nhờ túp lều tranh, kiếm ăn bằng cái búa cái rìu. Bạn của ta là hươu nai tôm cá, quanh ta chỉ có gió trăng hoa tuyết. Ta chỉ biết đông mặc áo kép, hè mặc áo đơn, nằm mây ngủ khói, uống nước khe, ăn của núi, còn ngoài kia là triều đại nào, vua quan nào, ta đâu có biết.” Rồi ông giữ Trương ở lại, dọn một mâm cơm thổi bằng hạt điêu hồ, canh nấu rau rừng cùng mấy món rau suối. Đêm khuya chuyện trò, lời nào cũng đáng nghe, nhưng tuyệt nhiên không một câu nào nhắc đến thời sự.
Sáng hôm sau, Trương lại nài: “Người quân tử xưa đâu phải không muốn giúp đời. Họ ẩn mình là để đợi thời. Nay ngài ôm tài kinh bang tế thế mà vùi trong đám tiều phu, đã đến lúc vứt nón lá, xé áo tơi mà ra giúp muôn dân rồi.” Ông tiều phu đáp: “Kẻ sĩ ai có chí nấy. Nghiêm Tử Lăng xưa chẳng đem chức quan đổi lấy con sông câu cá của mình. Tài ta không bằng người xưa, nhưng trời cho ta cũng đã nhiều: giàu hơn kẻ nghèo, sống lâu hơn kẻ yểu, no hơn kẻ đói, thong dong hơn kẻ lụy danh. Nếu còn tham cái ngoài phận mình, chen chân vào đường làm quan, thì chẳng những hổ với người xưa, mà còn phụ cả lũ vượn hạc trong núi này. Ông về đi, đừng nói thêm nữa.”
Trương chưa chịu thôi: “Hay ngài cho rằng thời này không đáng để ra giúp? Nay thánh nhân trị vì, bốn biển ngóng trông. Người Chiêm dâng đất xưng thần, quân Minh nộp lễ xin lui, các nước láng giềng tranh nhau quy phục. Chỉ còn thiếu những bậc ẩn sĩ như ngài ra giúp sức, để công đức của chúa thượng sánh ngang vua Nghiêu, vua Thuấn. Ngài định trọn đời ẩn lánh thì thôi. Còn nếu còn chút lòng thương dân, mà bỏ lỡ dịp này, tôi e ngài sẽ mục nát cùng cỏ cây, chẳng bao giờ còn gặp được thời cơ tốt như thế nữa.” Nói xong, Trương ngẩng cao đầu, tin chắc mình đã nói trúng tâm can người ẩn sĩ.
Ông tiều phu biến sắc: “Ông khoe khoang quá lời, người nghe phải thẹn thay. Vua bây giờ có phải họ Hồ không, có phải đã bỏ đất Long Đỗ mà dời về An Tôn không?” “Phải.” “Ta không đặt chân tới thị thành, nhưng vẫn nghe ông vua ấy là người thế nào. Dối trá, tham lam, vắt sức dân mà dựng cung điện, vét kho mà mở phố xá, tiêu vàng như rác. Tù tội có tiền đút là xong, chức quan có tiền là mua được. Kẻ nói thẳng thì bị giết, kẻ nịnh thì được thưởng. Lòng dân lung lay, bờ cõi sứt mẻ. Quan lại trên dưới thì kẻ tham tiền, kẻ nát rượu, kẻ chỉ lo chèn ép nhau. Ta trốn còn chưa xong, lại xắn áo lội vào ư? Ta không đem viên ngọc quý cho cháy chung trong ngọn lửa ấy đâu. Ta chỉ ghét kẻ miệng lưỡi, đã chìm trong triều đình nhơ nhuốc còn muốn kéo người khác chìm theo.”
Trương lặng thinh, xuống núi tâu lại hết với vua. Hán Thương chẳng vui, nhưng vẫn muốn đón cho bằng được, bèn sai Trương mang cỗ xe êm vào núi lần nữa. Lần này, đến nơi thì rêu đã trùm kín cửa động, gai góc mọc đầy, dây leo cành rậm lấp mất lối đi. Am cỏ, chim yểng, lũ trẻ đánh cờ đều không còn dấu vết. Chỉ trên vách đá còn hai câu thơ viết bằng nhựa cây, ý nói: nơi cửa biển Kỳ La, hồn thơ đứt đoạn; trên đầu núi Cao Vọng, lòng khách sầu thương. Giọng thơ như lời châm biếm, nét chữ cổ kính như lối triện xưa, nhưng chẳng ai hiểu nó muốn nói gì.
Hán Thương nổi giận, sai người đốt cả ngọn núi. Lửa cháy rừng rực mấy ngày, núi trụi cả cây, mà chẳng thấy người tiều phu đâu, chỉ có một con hạc đen lượn mãi trên không trung rồi bay xa. Ít lâu sau, giặc Minh tràn sang, nhà Hồ sụp đổ. Hồ Quý Ly bị bắt ở cửa biển Kỳ La, Hồ Hán Thương bị bắt trên núi Cao Vọng, đúng như hai câu thơ trên vách đá. Người đời sau bảo ông tiều phu ấy hẳn là một kẻ sĩ đắc đạo. Lại có lời bàn rằng: người làm vua muốn yên thiên hạ, trước hết phải giữ cho lòng mình ngay chính, rồi đến triều đình, trăm quan và muôn dân, đừng để đến nỗi kẻ ẩn sĩ trong núi phải lên tiếng chê bai.