Trạng Quỳnh tài giỏi nổi tiếng khắp kinh thành, nhưng cái miệng thì chẳng chịu tha ai. Chúa Trịnh bao lần bị Quỳnh trêu cho bẽ mặt, ghét lắm mà không làm gì được. Năm ấy đến kỳ đi sứ phương Bắc. Ai cũng biết đi sứ là việc khó: triều đình nước lớn hay bày đủ trò thử tài, sứ thần nào đối đáp kém thì làm nhục cả nước. Chúa cười thầm, bảo: Khanh giỏi thế, chuyến này để khanh đi. Quỳnh biết chúa muốn mượn tay nước lớn trị mình, nhưng vẫn cúi đầu nhận ấn. Ra về, Quỳnh nói với bạn: Chúa đẩy ta đi cho bẽ mặt. Ta lại đi cho cả nước được nở mày.
Đoàn sứ lên đường, qua bao đèo cao, bao dòng sông lớn, đi mấy tháng trời mới tới kinh đô phương Bắc. Dọc đường, quan lại nước người thấy sứ thần nước nhỏ thì nhìn bằng nửa con mắt. Có kẻ hỏi xỏ: Nước Nam bé bằng bàn tay, chắc người cũng nhỏ cả trí khôn? Quỳnh cười: Cái kim thì nhỏ, nhưng may được áo. Cái chày thì to, mà chỉ để giã gạo. Kẻ kia đỏ mặt, chẳng nói được gì thêm. Tin về ông sứ thần nước Nam miệng lưỡi sắc sảo truyền về kinh đô trước cả đoàn sứ, khiến vua phương Bắc tức lắm, quyết bày ra những câu đố thật khó để hạ Quỳnh.
Vào chầu, vua phương Bắc ra ngay một câu đố chữ. Vua nói: Hai mặt trời kề nhau, bốn ngọn núi lộn ngược, hai ông vua tranh nhau một nước, bốn cái miệng ngang dọc ở trong. Đó là chữ gì? Các quan nước lớn che miệng cười, tin chắc ông sứ nước nhỏ sẽ đứng ngẩn. Quỳnh chẳng cần nghĩ lâu, giơ ngón tay vẽ lên không trung một hình vuông chia bốn ô, rồi thưa: Tâu bệ hạ, là chữ điền, nghĩa là ruộng. Nước nhỏ chúng tôi sống nhờ ruộng, nên chữ ấy chúng tôi nhìn là ra. Vua lặng đi. Cả triều đình nhìn nhau, không ai còn cười nữa.
Hôm sau, vua cho đem ra một chiếc vỏ ốc to, ruột xoắn bao nhiêu vòng, hai đầu thủng hai lỗ nhỏ xíu. Vua thách: Sứ thần xâu được sợi chỉ qua ruột ốc này thì trẫm phục. Kim nào cũng không uốn theo được những vòng xoắn ấy. Quỳnh xin một sợi chỉ tơ thật mảnh, một ít mật ong. Ông bắt một con kiến, buộc đầu chỉ vào lưng nó, thả vào lỗ bên này, còn lỗ bên kia thì bôi mật. Con kiến ngửi thấy mùi ngọt, cứ thế bò quanh co trong ruột ốc. Chỉ một lúc sau, nó chui ra ở đầu kia, kéo theo sợi chỉ. Quỳnh nhấc sợi chỉ lên, dâng vua. Các quan nước lớn trố mắt, gật gù khen phục.
Vua vẫn chưa chịu, bày thêm cuộc thi vẽ. Một họa sư giỏi nhất triều đình nước lớn sẽ thi với Quỳnh, ai vẽ xong trước, vẽ được nhiều hơn thì thắng. Đề bài là vẽ những con giun. Họa sư cầm bút lông, nắn nót từng nét, mỗi con giun một dáng, đẹp như thật. Quỳnh thì chẳng cần bút. Ông nhúng cả mười đầu ngón tay vào nghiên mực, rồi kéo một đường dài trên tờ giấy. Chỉ một cái quẹt, mười con giun ngoằn ngoèo đã nằm trên giấy. Quẹt thêm cái nữa, đã có hai mươi con. Khi họa sư mới vẽ xong con thứ ba, Quỳnh đã đứng chắp tay chờ.
Vua phương Bắc cầm tờ giấy của Quỳnh lên xem, nhăn mặt: Thế này mà gọi là vẽ? Nét nào nét nấy giống hệt nhau. Quỳnh thưa: Tâu bệ hạ, giun thì con nào chẳng giống con nào, có tay có chân đâu mà phải tô vẽ. Họa sư của bệ hạ vẽ đẹp quá, đẹp đến mức giun cũng có dáng như rồng, sợ người xem lại tưởng là rồng mất. Vua tức mà không cãi được, vì đề bài do chính mình ra. Các quan cố nín cười đến đỏ cả mặt. Họa sư cúi đầu nhận thua. Vua đành phán: Cuộc thi này, sứ thần nước Nam thắng.
Ba lần thử, ba lần thua, vua phương Bắc biết không thể coi thường sứ thần nước Nam được nữa. Vua mở tiệc tiễn đưa, đích thân nâng chén mời Quỳnh, lại ban cho nhiều gấm vóc, sách vở. Vua nói: Nước nhỏ mà có người như khanh, thì không thể gọi là nhỏ. Quỳnh nâng chén đáp lễ: Tâu bệ hạ, nước tôi nhỏ thật, nhưng người nước tôi quen làm những việc khó bằng cách nhỏ: con kiến con cũng đi qua được ruột ốc to. Vua cười lớn, lần này là cái cười phục chứ không còn là cái cười khinh. Đoàn sứ lên đường về nước, cờ quạt rợp trời.
Về tới Thăng Long, dân kinh thành đổ ra đường đón ông sứ đã làm rạng mặt cả nước. Chúa Trịnh cũng phải ra tận thềm điện, mặt cười mà lòng chẳng vui, vì định mượn chuyến đi để Quỳnh bẽ mặt, ai ngờ Quỳnh lại nổi danh hơn trước. Chúa hỏi: Đi sứ có khó không? Quỳnh thưa: Khó thì có khó, nhưng ở nước người, hỏi khó thì chỉ để thử tài. Còn ở nhà mình, hỏi khó là để hại nhau, mới thật là khó. Chúa nghe mà đỏ mặt, chẳng nói được câu nào. Từ đó, chuyện Trạng Quỳnh đi sứ được người đời kể mãi, mỗi lần kể lại thêm một trận cười.