Về kệ Người lớn

Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm

Khoảng 10 phút · 12 cảnh

Chưa đầy tuổi đã biết nói, lên bốn đã thuộc kinh truyện, Nguyễn Bỉnh Khiêm đỗ Trạng nguyên rồi lui về am Bạch Vân. Một câu nói về oản chùa, một câu về dải Hoành Sơn của ông đã định vận cho cả nhà Lê, họ Trịnh và chúa Nguyễn: giai thoại về Trạng Trình theo sách cổ.

Cốt truyện theo: Nam Hải dị nhân liệt truyện, truyện Nguyễn Bỉnh Khiêm

Nguyễn Bỉnh Khiêm, hiệu là Bạch Vân cư sĩ, người làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại, đất Hải Dương. Mẹ ông là bà họ Nhữ, con gái quan thượng thư Nhữ Văn Lan. Bà thông kinh sử, giỏi văn chương, lại tinh nghề xem tướng. Bà kén chồng đến ngoài hai mươi tuổi, thấy ông Nguyễn Văn Định có tướng sinh quý tử mới chịu lấy. Về sau, có lần bà gặp một chàng trai trẻ đi qua bến Hàn, ngạc nhiên mà than rằng: Tiếc thay, khi trước không gặp người này! Hỏi ra, chàng ấy là Mạc Đăng Dung, người về sau lên làm vua nhà Mạc.

Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh năm Tân Hợi, đời vua Lê Thánh Tông. Đứa trẻ to lớn, đẫy đà, mặt mũi khôi ngô, chưa đầy một tuổi đã biết nói. Một buổi sớm, ông Văn Định đang bế con trên tay ra ngắm cảnh, đứa bé bỗng cất tiếng: Mặt trời mọc về phương đông. Văn Định lấy làm kỳ lạ. Lên bốn tuổi, mẹ dạy kinh truyện, dạy đến đâu cậu bé thuộc lòng đến đấy. Bà còn dạy con thuộc mấy chục bài thơ Nôm.

Một hôm bà mẹ đi vắng, ông Văn Định cầm sợi dây đùa với con, ngâm chơi một câu: Nguyệt treo cung, nguyệt treo cung. Câu chưa dứt, đứa con đã đọc tiếp: Vén tay tiên hốt hốt rung. Văn Định mừng lắm, đợi vợ về liền khoe. Ngờ đâu bà giận mà rằng: Mặt trăng là phận bề tôi, sao ông lại dạy con điều ấy? Ý bà là con mình phải giữ đạo làm tôi, chớ có mộng làm vua. Văn Định xin lỗi, nhưng bà vẫn không nguôi giận, xin về nhà cha mẹ đẻ, nhất định không ở lại nữa.

Khi Bỉnh Khiêm còn để chỏm, tắm cùng lũ trẻ ở bến Hàn, có người đi thuyền qua trông thấy, nói rằng: Tiếc cho thằng bé này, da dày quá, chỉ làm được Trạng nguyên, tể tướng là cùng! Lớn lên, nghe tiếng bảng nhãn Lương Đắc Bằng giỏi chữ, ông vào tận Thanh Hóa xin theo học. Lương Đắc Bằng từng đi sứ nhà Minh, được người cùng họ trao cho cuốn Thái Ất thần kinh, nên rất tinh nghề lý số, việc gì cũng tính biết trước. Nguyễn Bỉnh Khiêm học được hết phép của thầy. Lúc sắp mất, Lương Đắc Bằng dặn ông về sau phải trông nom con mình là Lương Hữu Khánh.

Thời vua Lê Chiêu Tông, triều chính rối ren, các phe tranh quyền đánh nhau liên miên, trong đó có Mạc Đăng Dung. Nguyễn Bỉnh Khiêm ở ẩn, không cầu danh lợi. Ông tính số Thái Ất, biết rằng cơ nghiệp nhà Lê về sau sẽ được khôi phục. Đau lòng trước cảnh nồi da xáo thịt, ông làm thơ than rằng non sông chẳng phải buổi thanh bình, mà người ta đánh nhau đến nỗi xương chất thành núi, rồi tự nhủ thôi thì bên đầm say hát mà nhởn nhơ chơi.

Về sau nhà Mạc chiếm giữ kinh thành, bốn phương tạm yên, bạn bè nhiều người khuyên ông ra làm quan. Bất đắc dĩ, ông đi thi và đỗ Trạng nguyên năm Đại Chính thứ sáu nhà Mạc, khi ấy đã bốn mươi bốn tuổi. Vua Mạc cho ông làm tả thị lang, đông các đại học sĩ. Làm quan được tám năm, ông dâng sớ hạch tội mười tám tên lộng thần. Nhân người con rể là Phạm Dao cũng kiêu ngạo hống hách, ông sợ vạ lây, bèn từ quan về quê dưỡng lão.

Về làng, ông dựng một cái am để nghỉ mát, đặt tên là am Bạch Vân, bắc hai cây cầu Nghênh Phong và Trường Xuân, lại dựng quán Trung Tân bên bến sông Tuyết Giang. Khi thì ông bơi thuyền chơi ở các cửa biển, khi thì cùng mấy nhà sư lên núi. Đi đến đâu ông làm thơ đến đấy. Gặp chỗ cây cối mát mẻ, chim kêu ríu rít, ông thảnh thơi suốt ngày. Tuy vậy, vua Mạc vẫn trọng ông, việc nước có điều gì lớn đều sai sứ đến tận nhà hỏi. Nhà Mạc phong ông làm Trình quốc công, vì thế người đời gọi ông là Trạng Trình.

Ông có người học trò tên là Bùi Sinh. Ông từng bảo Bùi Sinh về sau tất phú quý. Đến khi gần bảy mươi tuổi mà Bùi Sinh vẫn nghèo, cho là thầy đoán sai. Ông chỉ cười. Một hôm, ông dặn Bùi Sinh mượn mười chiếc thuyền đánh cá, bơi ra bến Hồng Đàm ngoài biển, đến đúng giờ đã định, gặp cái gì thì đem về. Bùi Sinh vâng lời, quả gặp một bà cụ áo mũ chỉnh tề trên chiếc thuyền bị bão thổi dạt đến. Ông đem về phụng dưỡng như mẹ. Ít hôm sau, quan tổng đốc Quảng Đông sai người sang nhờ tìm thái phu nhân bị bão cuốn đi. Bùi Sinh đem bà cụ dâng lên, được phong tước quận công.

Năm vua Lê Trung Tông mất mà không có con, Trịnh Kiểm đang cầm quyền, lòng hồ nghi, không biết nên làm thế nào. Ông sai người lén ra Hải Dương hỏi Trạng Trình. Ông không nói gì với sứ giả, chỉ ngoảnh lại bảo đầy tớ rằng: Năm nay mất mùa, thóc giống không tốt, chúng mày nên tìm giống cũ mà gieo mạ. Rồi ông sai chú tiểu quét chùa đốt hương, và bảo rằng: Giữ chùa thờ Phật thì ăn oản. Sứ giả về thuật lại, Trịnh Kiểm hiểu ý: phải tìm dòng dõi nhà Lê mà lập lên, giữ phận bề tôi thì mới được hưởng lộc. Trịnh Kiểm bèn đón vua Lê Anh Tông về lập, quả nhiên cơ nghiệp nhà Lê được giữ, mà họ Trịnh cũng đời đời vinh hiển.

Bấy giờ Nguyễn Hoàng có hiềm khích với Trịnh Kiểm, sợ bị hãm hại, cũng sai người đến hỏi kế. Trạng Trình đang chống gậy dạo trong vườn cảnh, nơi có mấy chục hòn non bộ xếp thành một dãy núi ngang, trên có đàn kiến đang bò. Ông nhìn đàn kiến, mỉm cười mà nói: Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân. Nghĩa là một dải núi Ngang kia có thể dung thân muôn đời. Nguyễn Hoàng hiểu ý, xin vào trấn thủ đất Thuận Hóa ở phía nam dãy Hoành Sơn. Quả nhiên cơ nghiệp họ Nguyễn mỗi ngày một thịnh, mở ra cả một phương trời phương Nam.

Học trò của ông rất đông, trong đó Phùng Khắc Khoan, Lương Hữu Khánh, Nguyễn Dữ đều làm nên danh vọng. Khi Phùng Khắc Khoan học đã giỏi, một đêm ông đến gõ cửa nhà trọ của học trò, nói: Gà đã gáy rồi, sao không dậy thổi cơm ăn, còn nằm mãi đấy ư? Khắc Khoan hiểu ý thầy giục mình vào Thanh Hóa giúp nhà Lê, bèn lên đường. Lúc ông lâm bệnh, vua Mạc sai sứ đến hỏi việc về sau. Ông bảo: Ngày sau nước có biến, đất Cao Bằng tuy nhỏ cũng giữ được vài đời. Về sau nhà Mạc mất kinh thành, chạy lên Cao Bằng, quả giữ thêm được mấy đời nữa.

Nguyễn Bỉnh Khiêm mất ngày hai mươi tám tháng mười một năm Ất Dậu, thọ chín mươi lăm tuổi. Học trò tôn ông là Tuyết Giang phu tử. Ông tính tình điềm đạm, ít nói, nhưng đã nói câu nào thì câu ấy đích đáng. Ông để lại tập thơ Bạch Vân và những lời sấm ký mà người đời sau còn truyền tụng. Dân làng nhớ ơn đức ông, lập đền thờ ngay trên nền nhà cũ, bốn mùa hương khói không dứt.