Năm ấy, Lý Bí đánh đuổi quân Lương, lên ngôi xưng là Lý Nam Đế, đặt tên nước là Vạn Xuân. Trong hàng tướng của vua có Triệu Quang Phục, người Chu Diên, giữ chức Tả tướng quân. Ông là con của Triệu Túc, theo cha phò Lý Nam Đế từ những ngày đầu dấy binh. Được ít năm, nhà Lương sai Trần Bá Tiên đem đại quân sang đánh. Lý Nam Đế thua trận, phải rút vào động Khuất Lão, giao binh quyền cho Triệu Quang Phục để chống giặc.
Quân Lương mạnh, không thể đánh giữa đồng trống. Triệu Quang Phục đưa hơn hai vạn quân vào đầm Dạ Trạch ở quê ông. Đầm rộng mênh mông, không biết bao nhiêu dặm, lau sậy um tùm, giữa đầm có bãi đất cao khô ráo, người ở được. Đường vào đầm toàn bùn lầy, người ngựa khó đi, chỉ quen thuộc mới đi được bằng thuyền độc mộc, chống sào lách qua cỏ lác. Người ta bảo đầm ấy chính là nơi Chử Đồng Tử và Tiên Dung bay về trời năm xưa, chỉ trong một đêm mà hóa thành đầm.
Ban ngày, trong đầm im phắc, không thấy một bóng người, không một làn khói bếp. Đêm xuống, quân của Triệu Quang Phục lặng lẽ chèo thuyền độc mộc ra, đánh úp các trại giặc, cướp lương thảo, giết quân canh rồi rút vào đầm. Quân Lương đuổi theo thì sa vào bùn lầy, lạc giữa lau sậy, không biết đâu mà lần. Cứ thế ngày qua tháng lại, giặc mệt mỏi, khốn đốn. Người ta gọi ông là Dạ Trạch Vương, tức vua đầm đêm.
Lý Nam Đế mất, Triệu Quang Phục xưng là Triệu Việt Vương. Ông lập đàn trong đầm, khấn cầu trời đất thần linh giúp đánh giặc. Một hôm, có vị thần cưỡi rồng vàng từ trên trời xuống, dân gian bảo đó là Chử Đồng Tử. Thần rút một chiếc móng rồng trao cho ông, dặn: "Hãy cài lên mũ đâu mâu mà đánh giặc, sẽ không ai địch nổi." Nói rồi thần cưỡi rồng bay về trời.
Từ khi đội mũ có cài móng rồng, quân Triệu Việt Vương đánh đâu thắng đó. Vừa lúc ấy bên Lương có loạn Hầu Cảnh, Trần Bá Tiên bỏ về nước, để tướng Dương Sàn ở lại. Triệu Việt Vương đem quân ra đánh, chém được Dương Sàn. Quân Lương tan chạy về bắc. Vua vào thành Long Biên, lấy thêm cả Cổ Loa, Vũ Ninh, thu lại đất nước, xưng là Nam Việt Quốc Vương.
Bấy giờ Lý Phật Tử, người họ hàng của Lý Nam Đế, cũng xưng vương, đem quân đánh Triệu Việt Vương. Đánh năm trận không phân thắng bại, hai bên giảng hòa, chia đất ở bãi Quân Thần. Lý Phật Tử xin cho con trai là Nhã Lang lấy con gái Triệu Việt Vương là Cảo Nương. Vua bằng lòng. Nhã Lang về ở rể bên nhà vợ.
Một hôm Nhã Lang nói với vợ: "Trước kia hai cha ta là kẻ thù, nay thành thông gia, chẳng hay lắm sao." Rồi chàng hỏi: "Cha nàng có phép gì mà đánh đâu thắng đó?" Cảo Nương thật thà kể hết chuyện chiếc móng rồng, lại lén lấy mũ đâu mâu cho chồng xem. Nhã Lang lặng lẽ đánh tráo, thay vào một chiếc móng giả. Rồi chàng nói: "Ta phải tạm xa nàng về thăm cha mẹ. Nếu chẳng may hai nhà bất hòa, nàng phải chạy đi đâu, hãy rứt lông ngỗng trong nệm gấm rắc dọc đường, ta sẽ theo dấu mà tìm." Cảo Nương tin chồng, không mảy may nghi ngờ.
Nhã Lang về rồi, Lý Phật Tử đem quân đánh úp. Triệu Việt Vương không biết gì, vẫn đội mũ đâu mâu ra đứng trước quân, ngồi chờ giặc đến. Nhưng lần này quân giặc cứ tràn lên mãi. Biết không chống nổi, vua đem con gái lên ngựa chạy về phương nam. Dọc đường, Cảo Nương rứt lông ngỗng trong chiếc áo nệm, rắc từng nhúm xuống đất, đúng như lời chồng dặn.
Chạy tới bờ biển, vua bỗng thấy Long Vương hiện lên, chỉ vào con gái mà nói: "Chính nó là giặc, nó rắc lông ngỗng dọc đường đấy." Vua đau đớn rút gươm chém chết con. Tới cửa biển Đại Nha, trước mặt là biển cả, đường cùng. Thần biển rẽ nước mở lối, vua phi ngựa xuống, nước khép lại sau lưng. Lý Phật Tử đuổi tới nơi chỉ thấy biển mênh mông. Hắn quay về, chiếm lấy Long Biên, Ô Diên, thu cả nước về tay mình. Người đời kể lại chuyện này, ai cũng nhớ tới Mỵ Châu, Trọng Thủy và chiếc nỏ thần của An Dương Vương năm nào. Dân trong nước coi ông như bậc thần. Dân lập đền thờ ông ở cửa biển, và nhiều làng quanh đầm Dạ Trạch vẫn thờ ông đến tận bây giờ.