Về kệ Người lớn

Truyện Lý Phục Man

Khoảng 6 phút · 9 cảnh

Người tướng làng Cổ Sở theo Lý Nam Đế dựng nước Vạn Xuân, trấn giữ đất Đỗ Động, Đường Lâm, được ban tên Phục Man vì dẹp yên quân man. Mất rồi, ông còn hiện về trong mộng vua Lý Thái Tổ xin dựng lại đền, và khiến ngựa giặc Nguyên què chân không tiến nổi vào làng.

Cốt truyện theo: Việt điện u linh tập, truyện Lý Phục Man

Ở làng Cổ Sở, đất Hoài Đức ngày nay, xưa có một người con trai tài giỏi khác thường. Tên thật của ông, sử sách không còn ghi lại. Theo thần tích của làng, ông giỏi võ nghệ, cưỡi ngựa bắn cung đều tinh, lại thuần phục được cả voi rừng. Thời ấy đất nước còn chịu ách nhà Lương phương Bắc, quan lại tham tàn, dân tình khổ sở. Chàng trai làng Cổ Sở ngày đêm luyện tập, chờ thời cơ ra giúp nước.

Rồi Lý Bí dấy binh đánh đuổi quân Lương, lên ngôi hoàng đế, xưng là Lý Nam Đế, đặt tên nước là Vạn Xuân. Chàng trai làng Cổ Sở tìm đến theo, được dùng làm tướng, đứng hàng Tả tướng quân. Ông theo vua đánh đông dẹp bắc, lập được nhiều công. Lý Nam Đế giao cho ông trấn giữ vùng Đỗ Động và Đường Lâm, một dải núi sông hiểm trở ở phía tây kinh thành. Ở đó ông dẹp yên trộm cướp, thu phục các tộc man vùng núi, dân trong vùng ai cũng kính phục.

Bấy giờ quân Lâm Ấp từ phương nam tràn lên, chiếm đất Cửu Đức. Ông được cử làm tổng soái đem quân vào đánh. Trận ấy quân Lâm Ấp thua chạy, đất phương nam trở lại yên. Lý Nam Đế mừng lắm, ban cho ông theo họ Lý của vua, gả con gái cho, phong chức Thiếu úy, tôn là Phục Man tướng quân, nghĩa là vị tướng khiến quân man phải khuất phục. Từ đó người đời gọi ông là Lý Phục Man.

Ông ở lại trấn giữ biên cương phía nam. Ít năm sau, quân Lương lại sang đánh, Lý Nam Đế thua trận, phải lui về động Khuất Lão. Lý Phục Man định kéo quân ra bắc cứu vua, nhưng bị quân Lâm Ấp đánh úp ban đêm. Hết lương, không có quân cứu viện, ông đành tự vẫn nơi biên ải. Gia tướng đưa ông về quê Cổ Sở, chôn cất bên hồ Mã Tân. Dân làng thương ông, lập đền thờ bên hồ.

Hơn bốn trăm năm sau, vua Lý Thái Tổ đi chơi thuyền, ghé bến làng Cổ Sở. Thấy núi sông nơi đây thanh tú, vua đem rượu rưới xuống sông mà khấn: "Ta nghe núi ở đây đẹp, sông ở đây thanh. Nếu có người tài giỏi hay thần linh nào thì xin nhận lễ của ta." Đêm ấy vua nằm mộng thấy một người cao lớn, tướng mạo khác thường, cúi đầu bước tới.

Người ấy nói: "Thần là người đất này, họ Lý tên Phục Man, từng giúp vua Lý Nam Đế, làm Tả tướng quân, có tiếng trung thành, được giao cai quản núi sông Đỗ Động. Khi thần chết, Thượng đế khen là trung chính, cho giữ chức cũ. Bấy lâu nay thần vẫn cầm âm binh dẹp loạn trong vùng. Nay được gặp bệ hạ, cảm vì lòng quan tâm của bệ hạ." Rồi người ấy ngâm bốn câu thơ, ý rằng trời đất tối tăm thì trung thần phải giấu tên, nay mặt trời mặt trăng đã mọc thì ai cũng thấy rõ hình. Ngâm xong thì bay đi mất.

Vua giật mình tỉnh dậy, đem chuyện kể với quần thần. Quan đại thần là Vương Nhậm Chi tâu: "Ý thần là muốn bệ hạ dựng đền, dựng lại tượng thờ." Vua sai người đi tìm, quả nhiên tìm được pho tượng cũ. Vua cho thợ dựng đền mới, tạc tượng giống hệt người trong mộng, phong làm phúc thần giữ yên một vùng. Từ đó, hương khói ở đền Cổ Sở không bao giờ dứt. Sách xưa còn chép, trước đó đời vua Lê Đại Hành, thần cũng từng hiện mộng, được phong làm phúc thần một phương. Về sau, vua Trần Thái Tông nghỉ đêm ở bến hồ Mã Tân, lại mộng thấy thần xưng tên là Lý Phục Man, xin được che chở cho dân, vua bèn cho mở rộng đền thờ.

Đến đời nhà Trần, năm Nguyên Phong, quân Mông Cổ tràn sang, đi đến đâu cướp phá đến đó. Khi kéo đến gần làng Cổ Sở, ngựa của giặc bỗng què chân, không tiến lên được. Giặc vung khí giới xông vào làng. Dân làng cậy oai thần, cùng nhau kéo ra chống cự, đánh cho giặc tan chạy. Từ đó, giặc không dám nghĩ đến chuyện quay lại nữa. Người làng tin chắc rằng chính vị tướng năm xưa đã ra tay giữ làng, khiến ngựa giặc què chân giữa đường.

Năm Trùng Hưng thứ nhất, giặc phương Bắc lại sang. Chúng đi đến đâu cũng cướp sạch, vậy mà tới đền Cổ Sở thì như có gì che chở, không dám động đến một mảy may. Giặc tan, nhà vua phong cho thần thêm mỹ hiệu, gọi là Diên An Minh Ứng. Ngày nay, ở làng Yên Sở, Hoài Đức, đền thờ ông vẫn đứng bên hồ, và nhiều làng ở đồng bằng Bắc Bộ vẫn thờ ông làm thành hoàng.