Thuở thượng cổ, ở đất Phong Châu có một cây chiên đàn to lớn lạ lùng. Thân cây cao vút không biết mấy nghìn trượng, cành lá sum suê che rợp cả một vùng rộng mênh mông. Trên cành có đàn hạc trắng về làm tổ, nên người ta gọi đất ấy là Bạch Hạc. Cây sống qua không biết bao nhiêu nghìn năm. Rồi một ngày, cây khô héo đi, thân gỗ già cỗi hút lấy khí trời đất mà hóa thành yêu tinh.
Yêu cây ấy hung dữ vô cùng. Nó biến hóa khôn lường, hôm nay hiện ở chỗ này, mai đã sang chỗ khác, lúc thành hình người, lúc thành hình thú, thường bắt người và súc vật mà ăn. Kinh Dương Vương từng dùng phép thuật trị nó, nó tạm chịu lép rồi lại quay ra làm hại. Người ta tìm đủ cách mà không sao diệt được nó. Dân sợ quá, đành lập đền thờ, gọi nó là thần Xương Cuồng.
Từ đó thành lệ: mỗi năm, cứ đến ngày ba mươi tháng Chạp, dân phải dâng một người sống cho thần Xương Cuồng thì nó mới để yên. Ở miền tây nam, người ta sai người Man Bà Lộ đi bắt người Lạo trong khe núi đem về nộp, năm nào cũng vậy. Gần tết, nhà nào có người bị chọn đem nộp thì khóc than thảm thiết, mà không ai làm gì được. Đêm cuối năm, nhà nhà đóng cửa, không ai dám ra đường. Cái tết của dân vùng ấy năm nào cũng nặng trĩu nỗi sợ.
Đến đời Tần Thủy Hoàng, Nhâm Hiêu sang làm quan lệnh ở Long Xuyên. Thấy tục lệ dã man, ông ra lệnh cấm, không cho đem người tế thần nữa. Xương Cuồng nổi giận, ra tay làm hại, giết luôn cả Nhâm Hiêu. Từ đó, không ai dám nhắc tới chuyện bỏ lệ. Dân lại phải cúng tế cẩn thận hơn trước, hàng trăm năm trôi qua, năm nào cũng mất đi một mạng người.
Mãi đến đời Đinh Tiên Hoàng, có một pháp sư từ phương Bắc sang, tên là Văn Du Tường. Ông tu hành khổ hạnh từ khi mới hơn bốn mươi tuổi, đến lúc sang nước ta thì đã ngoài tám mươi, đức hạnh cao, từng đi qua nhiều nước, hiểu tiếng nói của các dân man, lại biết phép làm nanh vàng, răng đồng. Đinh Tiên Hoàng tiếp ông theo lễ thầy trò. Nghe chuyện Xương Cuồng, pháp sư nói: "Yêu này mạnh, không thể đánh thẳng. Phải dụ nó ra rồi mới trừ được."
Pháp sư bày cho dân những trò tạp kỹ để làm vui cho thần xem. Cứ đến tháng mười một, người ta dựng một cái lầu cao gọi là lầu Phi Vân, giữa lầu trồng một cây cột. Họ bện vỏ gai thành một sợi dây chão dài một trăm ba mươi sáu thước, to hai tấc, ngoài quấn mây cho chắc, hai đầu chôn xuống đất, khúc giữa vắt qua đầu cột. Trai làng ngày đêm tập luyện dưới sự chỉ bảo của pháp sư, chờ đến ngày cuối năm.
Có trò Thượng Kỵ, người chít khăn đen, mặc quần đen, chạy trên dây ba bốn lượt mà không ngã. Có trò Thượng Can, hai người cầm cờ đi trên dây dài, gặp nhau ở chỗ dây rẽ ba thì tránh nhau khéo léo. Có trò nhảy múa trên tấm ván đặt trên cây cao, trò lăn trong lồng tre đan như cái lờ cá, trò cưỡi ngựa phi rồi cúi xuống nhặt đồ dưới đất. Lại có người nằm ngửa, đỡ một cây sào dài cho trẻ con trèo lên. Bên dưới, kẻ đóng vai người ngã ngựa, đám trẻ con thì ca hát, cả bãi hội rộn ràng như chưa từng có chuyện gì đáng sợ.
Đến ngày cúng tế, trống chiêng nổi vang, trẻ con hò reo, người người ca hát, múa may, lại mổ súc vật bày lễ thật linh đình. Thần Xương Cuồng cùng bộ hạ kéo đến, vừa ăn đồ cúng vừa mải mê ngắm các trò lạ trên dây. Đúng lúc ấy, pháp sư lẩm nhẩm đọc mật chú, rút kiếm chém thẳng vào yêu tinh. Xương Cuồng và cả đám bộ hạ đều chết, từ đó không còn hóa thành yêu được nữa. Cả bãi hội lặng đi một lúc, rồi tiếng reo hò vang dậy khắp nơi.
Từ đó, lệ nộp người mỗi năm bị bãi bỏ, không biết bao nhiêu mạng người được cứu. Đêm ba mươi tháng Chạp ở đất Bạch Hạc không còn là đêm của nước mắt nữa. Người ta còn kể, những trò đi dây, cưỡi ngựa, múa sào mà pháp sư bày ra năm ấy được dân truyền lại, thành những trò vui trong các ngày hội. Có người còn bảo, đất Bạch Hạc chính là nơi những phường tạp kỹ đầu tiên của nước ta ra đời, từ chuyện cây chiên đàn và yêu tinh Xương Cuồng.