Có một chàng điêu khắc tên là Alfred. Chàng đoạt huy chương vàng lớn, được cấp tiền sang Ý học nghề, rồi trở về quê nhà Đan Mạch. Hồi ấy chàng còn trẻ lắm, mà đến giờ vẫn còn trẻ, dù đã thêm mười tuổi. Về nước, chàng ghé thăm một thị trấn nhỏ trên đảo Zealand. Cả thị trấn đều biết người khách lạ là ai. Một ông nhà giàu bậc nhất mở tiệc mừng chàng, mời đủ mặt những người có của, có danh trong vùng. Chẳng cần đánh trống báo tin, ai cũng biết. Học trò các phường nghề, con cái nhà nghèo, cả những người nghèo nữa, đứng chật trước cửa ngắm những ô cửa sổ sáng đèn, đông tới mức anh tuần đêm tưởng mình cũng đang mở tiệc. Trong nhà, Alfred kể chuyện, ai nấy lắng nghe vừa thích thú vừa kính nể.
Không ai kính phục chàng bằng bà quả phụ của một viên sĩ quan hải quân. Bà như tờ giấy thấm mới tinh, hút hết mọi lời chàng nói mà vẫn còn đòi thêm. Bà ham nghe lắm, và cũng mù mờ đến lạ. "Tôi muốn thấy thành Rôma quá," bà nói, "chắc đẹp lắm, nên người ngoại quốc mới kéo đến đông thế. Cậu tả cho tôi nghe đi, vào cổng thành thì trông thấy gì?" Alfred đáp rằng vào cổng là tới một quảng trường rộng, giữa có cây cột đá cổ của Ai Cập mà người ta gọi là cột tháp bút. "Ông thợ bút à?" bà reo lên, vì bà chưa từng nghe cái chữ ấy. Mấy vị khách phải cố nhịn cười. Bà lại hỏi: "Đức Giáo hoàng có đông con cháu không?" Chàng bảo Giáo hoàng không được lấy vợ. Bà phán: "Thế thì tôi không ưng."
Nụ cười trên môi Alfred bỗng tắt, vì chàng bắt gặp một đôi mắt xanh thẳm ngay bên cạnh bà quả phụ. Đó là cô con gái. Người có đứa con như thế, hẳn đâu thể ngốc. Bà mẹ là một vòi nước tuôn câu hỏi, còn cô con gái chỉ lắng nghe, chẳng nói câu nào, như nàng tiên đứng bên giếng nước. Chàng kể về nước Ý, về những ngọn đồi tím, biển Địa Trung Hải xanh thẳm, bầu trời phương nam rực rỡ, rồi nói thêm rằng ở phương bắc chỉ có đôi mắt xanh của một thiếu nữ mới đẹp hơn thế. Chàng nói bằng giọng rất riêng, nhưng người lẽ ra phải hiểu thì vẫn ngơ ngác, và chính vẻ ngơ ngác ấy cũng thật đáng yêu. Bà mẹ hứa nếu trúng xổ số thì cả nhà sẽ sang Ý, nhờ chàng dẫn đường. Cô gái khẽ thở dài. Chàng đọc thấy trong tiếng thở dài ấy cả một kho báu của trái tim và trí tuệ.
Từ đó, nhà bà quả phụ là nơi Alfred lui tới nhiều nhất, và ai cũng hiểu chàng đến vì cô con gái. Tên nàng là Karen Malena, gọi tắt là Kaela. Nàng đẹp thật, chỉ có người bảo nàng hơi chậm hiểu, lại hay ngủ dậy muộn. "Nó quen thế rồi," bà mẹ nói, "người đẹp thì dễ mệt, ngủ nhiều cho mắt trong." Alfred tin vào câu tục ngữ nước lặng thì sâu, và tim chàng chìm hẳn xuống đáy đôi mắt ấy. Một lần chàng đưa ra bức ký họa bằng bút chì vẽ núi lửa Vesuvius phun trào. Bà mẹ trố mắt: "Cậu thấy tận mắt nó phun lửa trắng à?" Lòng kính trọng của chàng với bà chao đi một chút, nhưng rồi chàng nghĩ, bà không có mắt nhìn màu thì có sao, bà có thứ quý nhất đời, là Kaela. Hai người đính hôn. Bà mẹ mua liền ba mươi tờ báo để cắt mẩu tin gửi khắp bạn bè.
Alfred nặn tượng bán thân cho cả hai mẹ con. Bà mẹ xem chàng nặn đất, bảo: "Chắc vì nể mẹ con tôi nên cậu mới tự tay làm cái việc tầm thường này, chứ thường thì để người hầu dán đắp chứ." Chàng đáp nghề này phải tự tay nặn lấy. Kaela lặng lẽ siết bàn tay còn dính đất của chàng. Chàng giảng cho hai mẹ con về vẻ đẹp của tạo hóa, rằng tâm hồn đẹp sẽ hiện ra nơi dáng hình, và việc của người thợ tạc là nắm lấy vẻ đẹp ấy. Kaela chỉ im lặng gật đầu, còn bà mẹ thú thật rằng nghe chàng nói bà chóng cả mặt. Đám cưới vui lắm, có phù dâu, có quà mừng, có diễn văn. Bà mẹ còn đặt tượng nhà điêu khắc lừng danh Thorvaldsen ở đầu bàn, khoác cho pho tượng chiếc áo choàng ngủ, coi như một vị khách. Có bài hát mừng rằng: "Pygmalion yêu nàng Galatea." Bà mẹ bảo: "À, lại mấy cái chuyện thần thoại của các cậu."
Hôm sau, đôi vợ chồng trẻ về Copenhagen sống, bà mẹ vợ đi theo để lo những việc mà bà gọi là việc nặng trong nhà. Kaela ngồi giữa căn nhà mới tinh, sáng bóng, trông như con búp bê trong nhà búp bê. Còn Alfred thì như thiên nga lạc giữa đàn ngỗng. Vẻ đẹp của dáng hình đã bỏ bùa chàng. Chàng đã ngắm chiếc hộp mà quên hỏi trong hộp đựng gì, và trong đời vợ chồng, sơ suất ấy hay đem lại nỗi buồn lớn nhất. Hộp có thể sứt, lớp mạ vàng có thể bong, lúc ấy người mua mới tiếc. Giữa buổi tiệc đông người mà đứt cúc áo thì khó chịu thật, nhưng khó chịu hơn là biết vợ và mẹ vợ đang nói những điều ngớ ngẩn, còn mình thì chẳng nghĩ ra câu nào cho khéo để đỡ lời. Hai vợ chồng thường ngồi nắm tay nhau, chàng nói, nàng chỉ thỉnh thoảng đáp một tiếng, giọng vẫn ngân như chuông.
Mỗi lần Sophy, một cô bạn của Kaela, đến chơi, cả nhà như được thở. Sophy không đẹp. Kaela bảo cô hơi gù, nhưng phải người thân lắm mới nhận ra. Cô là cô gái rất hiểu biết, và chưa bao giờ nghĩ mình có thể là người đáng ngại trong ngôi nhà ấy. Cô đến là ngôi nhà búp bê có thêm không khí, mà ai cũng nhận nhà ấy đang cần không khí thật. Rồi cả nhà đi Ý một năm. Về đến nơi, mẹ con bà quả phụ cùng thở phào: "Lạy trời, lại được ở trong bốn bức tường nhà mình." Bà mẹ than đi xa chẳng sướng gì, tốn kém mà mệt, bao nhiêu phòng tranh phải chạy theo cho đủ, xem tranh Đức Mẹ nhiều quá đến mức bà tưởng mình sắp hóa thành Đức Mẹ. "Mà ăn uống thì, mẹ ơi," Kaela thêm. "Phải đấy," bà mẹ nói, "chẳng có nổi bát canh thịt cho tử tế."
Chuyến đi làm Kaela mệt, mà nàng thì lúc nào cũng mệt, đó mới là điều đáng lo. Cả nhà bèn mời Sophy về ở cùng, và có cô thật là may. Bà mẹ cũng phải nhận Sophy không chỉ đảm đang mà còn hiểu biết, khéo léo, điều hiếm thấy ở một cô gái nhà nghèo. Sophy còn là người tốt bụng và thủy chung. Cô chứng tỏ điều ấy trọn vẹn khi Kaela nằm bệnh, ngày một héo dần. Khi chiếc hộp là tất cả, thì chiếc hộp phải thật bền, nếu không thì hết. Và chiếc hộp đã vỡ: Kaela qua đời. "Con tôi đẹp lắm," bà mẹ nói, "nó chẳng giống những pho tượng cổ người ta khen, sứt mẻ cả rồi. Người đẹp phải hoàn hảo, mà Kaela là người đẹp hoàn hảo." Alfred khóc, bà mẹ khóc, cả hai mặc đồ tang. Bộ đồ đen rất hợp với bà, và bà để tang lâu hơn cả.
Bà mẹ còn phải chịu thêm một nỗi buồn: Alfred cưới Sophy, người chẳng có gì đáng ngắm. "Nó đi từ cực này sang cực kia," bà than, "từ người đẹp nhất sang người xấu nhất, quên phắt vợ trước. Đàn ông chẳng ai chung thủy. Chồng tôi thì khác, nhưng ông ấy lại đi trước tôi." Alfred nói với Sophy: "Ngày cưới lần đầu, người ta hát rằng Pygmalion yêu nàng Galatea. Anh từng yêu một pho tượng đẹp sống dậy trong tay mình. Nhưng tâm hồn đồng điệu, thiên thần biết cảm, biết thương, biết nâng ta lên, thì đến giờ anh mới tìm thấy. Em dạy người thợ tạc rằng dáng hình chỉ là đất sét rồi sẽ mục. Còn Kaela tội nghiệp, đời anh với nàng chỉ như cuộc gặp bên đường." Sophy đáp: "Anh nói thế không phải lời của tình yêu. Ở thế giới bên kia, nơi mọi điều đẹp đều lớn lên, tâm hồn Kaela sẽ trọn vẹn, có khi còn hòa hợp với anh hơn cả em, và anh sẽ lại thốt lên như thuở đầu: đẹp quá, đẹp nhất trên đời."