Ngày xưa, ở làng Hoằng Bột, xứ Thanh, có một người sinh ra đã mặt vuông, tai to như hai cái quạt nan. Tên thật là Xiển, nhưng vì quê ở Hoằng Bột nên người ta gọi là Xiển Bột. Xiển học hành cũng giỏi, đi thi mấy lần đều trượt, vì bài văn nào cũng có câu chọc quan. Anh nghèo, lại là dân ngụ cư, bị cường hào trong làng chèn ép đủ điều. Nhưng Xiển chẳng sợ ai. Anh nói anh là chắt của Trạng Quỳnh, mà đã là dòng dõi Trạng Quỳnh thì sinh ra là để trêu những kẻ ngồi trên đầu dân. Người làng nghe anh kể chuyện, cười đến chảy nước mắt.
Tiếng Xiển lan tới tận kinh đô. Nhà vua nghe nói có người tự xưng là chắt Trạng Quỳnh thì tò mò, cho vời vào cung. Vua hỏi: Ông cụ Trạng ngày xưa giỏi như thế, trước khi mất có dặn lại con cháu điều gì quý báu không? Xiển cung kính tâu: Muôn tâu bệ hạ, có ạ. Lúc cụ sắp đi, con cháu quây quanh, hỏi đi hỏi lại mãi cụ có dặn gì không. Cụ mở mắt ra, quát: Hỏi mãi! Rồi cụ đi. Vua đang chờ một lời vàng ngọc, nghe thế mới biết mình chính là kẻ đang hỏi mãi. Vua đỏ mặt, mà không có cớ gì bắt tội được.
Ít lâu sau, Xiển lại có dịp vào chầu. Vua hỏi xem sức khỏe của trẫm thế nào. Xiển tâu: Bệ hạ mắc bốn bệnh nan y: què, mù, câm, điếc. Vua giận tím mặt, bắt phải giải thích. Xiển thong thả tâu: Bệ hạ quanh năm chỉ ở trong cung, không đi thăm dân, chẳng phải là què sao? Nước mất dần mà bệ hạ vẫn vui chơi, chẳng phải là mù sao? Giặc vào nhà mà không nói được một lời, chẳng phải là câm sao? Lại ký giấy dâng đất cho người ta mà không nghe tiếng dân kêu, chẳng phải là điếc sao? Cả triều lặng ngắt. Vua giận lắm, nhưng câu nào cũng đúng, đành phẩy tay cho lui.
Có năm thi hỏng, bạn bè thách Xiển đến xin tiền ông tổng đốc nổi tiếng hay chém người. Xiển nhận lời, vào thẳng dinh, nói: Tôi đến xin được chết. Tổng đốc ngạc nhiên, hỏi vì sao. Xiển đáp: Học trò thi mãi không đỗ, sống cũng như chết. Tổng đốc cười khẩy, ra đề: Nếu làm được bài thơ có đủ bốn chữ điên, cuồng, ngu, ngộ, thì ta tha. Xiển cầm bút, viết một mạch. Bài thơ nhận mình là kẻ điên kẻ dại, nhưng đọc kỹ thì thấy cái điên của học trò còn hơn cái khôn của những kẻ ngồi trên. Tổng đốc đọc xong, không giận mà lại khen, thưởng ba mươi quan tiền. Từ đó, người ta gọi Xiển thêm một cái tên nữa là Xiển Ngộ.
Hồi ấy, trên tỉnh có ông quan án tên là Tiêu. Viên quan huyện sở tại muốn nịnh quan trên, bèn ra lệnh cấm dân trong huyện nói chữ tiêu, để kiêng tên ông án. Ai lỡ miệng nói chữ ấy thì bị vả vào mồm. Dân khổ sở vô cùng: đi chợ không dám nói tiêu tiền, nấu ăn không dám bảo hạt tiêu, đến cây chuối tiêu cũng phải gọi trệch đi. Mấy người lỡ lời bị lính vả sưng má. Xiển nghe chuyện thì cười: Lệnh này là lệnh của quan, thì quan phải giữ cho đúng trước. Rồi anh khăn áo chỉnh tề, lên huyện xin gặp quan.
Vào tới công đường, Xiển kêu nghèo, xin quan bố thí. Quan muốn tỏ ra rộng lượng trước dân, bèn ném cho một đồng tiền đã rỉ xanh. Xiển cầm đồng tiền, lật qua lật lại, hỏi: Bẩm quan, đồng tiền rỉ thế này, con mang ra chợ thì làm thế nào ạ? Quan bực mình, buột miệng: Thì cứ mang đi mà tiêu! Chữ tiêu vừa ra khỏi miệng, Xiển đã giơ tay tát quan một cái, rồi cái nữa, rồi cái nữa. Quan ôm má, la lên: Sao mày dám? Xiển khoanh tay đáp: Bẩm quan, con chỉ làm đúng lệnh của quan thôi ạ. Lính đứng đó nhìn nhau, không biết nên bắt ai. Quan đành nuốt giận, ngay hôm sau lặng lẽ bỏ cái lệnh ấy đi.
Một năm gần Tết, quan tri phủ đi chợ, lọng che cờ phất, lính tráng dẹp đường. Xiển ôm một con chó con, lẳng lặng đi lẫn vào giữa đoàn tùy tùng. Có bà hàng chợ thấy con chó đẹp, hỏi to: Này anh, con chó ấy bao nhiêu? Xiển vừa chỉ tay về phía cái kiệu, vừa đáp rõ to: Quan đấy! Bà kia tưởng anh nói giá một quan tiền, nhưng cả chợ thì hiểu ra trước, cười ồ lên. Quan phủ giận, cho lính bắt Xiển lại tra hỏi. Xiển thưa rất ngoan: Bẩm, con bán chó một quan, chẳng lẽ lại nói dối giá? Quan cứng họng, đành cho đoàn đi tiếp, mà chẳng còn bụng dạ nào dạo chợ nữa.
Chuyện của Xiển cứ thế truyền từ làng này sang làng khác. Kẻ có quyền thì ghét anh mà không làm gì được, vì anh không bao giờ nói sai một lời nào để người ta bắt bẻ. Người nghèo thì thương anh, mỗi lần bị cường hào hay quan lại chèn ép, lại kể chuyện Xiển Bột cho nhau nghe mà hả lòng. Tối tối, dưới gốc đa đầu làng, Xiển ngồi kể chuyện, trẻ con ngồi trong lòng, người lớn ngồi quanh. Người ta bảo: dòng Trạng Quỳnh có thể không còn ai làm quan, nhưng cái tài dùng lời nói mà dạy cho kẻ ngồi trên một bài học thì vẫn còn đó, trong tiếng cười của dân xứ Thanh.