Ngày xưa, giữa vùng núi đỏ đất bazan, có một tù trưởng tên là Gia Rơ Khốt. Nhà dài của ông dài như một tiếng chiêng ngân, cột kèo chạm trổ, cầu thang khắc hình đôi bầu vú. Chiêng ché trong nhà nhiều không đếm xuể, trâu bò đàn đàn kéo xuống bến nước. Vợ ông là nàng H'Bia, người đẹp nết đẹp người, dệt vải hoa văn đỏ đen không ai sánh kịp. Dân trong buôn thương ông vì ông rộng tay, mùa đói chẳng để ai phải ăn rễ cây. Tiếng tăm của Gia Rơ Khốt bay qua bảy ngọn núi, tới tận những buôn làng xa.
Bên kia núi có tù trưởng Gia Rơ Bú. Hắn cũng giàu, nhưng lòng hắn hẹp như cái lỗ kim. Mỗi lần nghe khách qua đường khen Gia Rơ Khốt, hắn lại nghiến răng, đập tay xuống sàn nhà. Hắn nói với đám tôi tớ rằng dưới gầm trời này chỉ được có một người giàu nhất, và người ấy phải là hắn. Rồi hắn còn thèm muốn cả nàng H'Bia, người vợ mà cả vùng ca ngợi. Đêm đêm bên bếp lửa, Gia Rơ Bú bàn mưu với bọn tay chân, mài giáo, vót tên, chờ ngày kéo sang bên kia núi.
Rồi một đêm không trăng, Gia Rơ Bú dẫn người tràn qua núi. Tiếng hò hét át cả tiếng chiêng báo động. Gia Rơ Khốt cầm khiên xông ra chống cự, nhưng giặc đông như kiến, ông đánh tới khi kiệt sức rồi ngã xuống trước sân nhà dài. Chiêng ché bị khuân đi, trâu bò bị lùa đi, nhà cửa bị đốt cháy. Nàng H'Bia bị trói tay, bị dẫn đi làm nô lệ cho Gia Rơ Bú. Giữa cảnh hỗn loạn ấy, đứa con trai còn đỏ hỏn của nàng là Xinh Nhã được người hầu già bế chạy vào rừng sâu, thoát khỏi tay giặc.
Đứa bé được vợ chồng Xinh Yuê ở một buôn nghèo đưa về nuôi. Hai ông bà không có con, nên thương Xinh Nhã như máu thịt của mình. Họ cho cậu ăn từng nắm cơm lam, dạy cậu đặt bẫy, đan gùi, đánh chiêng. Lạ thay, Xinh Nhã lớn nhanh như cây le mùa mưa. Mới mấy mùa rẫy mà cậu đã vác nổi khúc gỗ hai người khiêng, chạy nhanh hơn con hoẵng trên đồi. Nhưng cậu không biết mình là ai, chỉ thấy đôi khi bà mẹ nuôi nhìn mình rất lâu, rồi quay đi lau nước mắt.
Một hôm, Xinh Nhã chơi đánh quay với lũ trẻ trong buôn. Thua cậu, một đứa bực mình bĩu môi, gọi cậu là đứa không cha không mẹ. Xinh Nhã sững người, chạy một mạch về nhà hỏi cha mẹ nuôi. Ông Xinh Yuê im lặng hồi lâu, rồi rít một hơi tẩu, kể hết mọi chuyện. Ông kể về Gia Rơ Khốt, người cha đã ngã xuống trước sân nhà dài, về nàng H'Bia giờ đang giã gạo, cõng nước cho kẻ thù bên kia núi. Xinh Nhã nghe xong, nước mắt chảy dài. Cậu nói rằng cậu phải đi, đi tìm Gia Rơ Bú, đòi lại món nợ của cha và đưa mẹ về.
Ông bà Xinh Yuê can mãi không được, đành gói cho cậu ít cơm, một ống nước, một cái khiên và cây gậy gỗ cứng. Xinh Nhã lên đường. Cậu lội qua những con suối nước réo như thác, trèo qua những sườn núi dựng đứng như vách nhà. Có đêm cậu ngủ trên cây để tránh hổ, có ngày cậu nhịn đói mà đi. Gặp buôn nào, cậu cũng dừng lại hỏi đường. Dân các buôn nghe cậu là con Gia Rơ Khốt thì thương, người cho nắm gạo, người chỉ lối tắt qua rừng. Ai cũng đã từng nghe tiếng tàn ác của Gia Rơ Bú, và ai cũng mong có người dám đứng lên.
Một đêm, ngủ bên gốc cây cổ thụ trên đỉnh núi cao, Xinh Nhã nằm mơ thấy một ông già tóc trắng như mây. Ông bảo rằng trời đất đã nghe tiếng than của buôn làng, và người dám đánh kẻ hung ác sẽ không phải đi một mình. Tỉnh dậy, cậu thấy gió quanh mình thổi mạnh khác thường. Cậu vung gậy, cây rừng rạp xuống như gặp bão. Cậu hét một tiếng, tiếng vang dội khắp ba thung lũng. Từ hôm ấy, Xinh Nhã mang trong mình sức mạnh của giông gió. Chàng biết đã tới lúc tìm đến nhà Gia Rơ Bú.
Nhà dài của Gia Rơ Bú nằm giữa buôn, cầu thang cao, mái lợp tranh dày. Xinh Nhã đứng dưới sân, gõ khiên vào gậy mà gọi lớn. Chàng bảo Gia Rơ Bú hãy xuống đây, xuống mà trả món nợ đêm không trăng năm ấy. Gia Rơ Bú ló đầu ra, cười khẩy, bảo thằng nhãi ở đâu tới mà dám to tiếng. Nhưng thấy cả buôn kéo ra xem, hắn không thể ngồi yên. Hắn khoác khiên, vác giáo, nặng nề bước xuống cầu thang. Trong đám đàn bà đứng sau bếp, có một người dừng tay giã gạo, nhìn chàng trai lạ mà tim đập rộn ràng.
Hai người lao vào nhau. Gia Rơ Bú múa khiên, tiếng khiên kêu như đá lở. Hắn đâm tới, Xinh Nhã nhảy tránh, nhẹ như con chim cắt. Họ đánh từ sáng tới trưa, từ trưa sang chiều, cây cối quanh sân gãy đổ, bụi đỏ bay mù trời. Rồi Xinh Nhã gọi gió. Giông tố nổi lên ầm ầm, cuốn tung mái tranh, thổi bạt khiên của Gia Rơ Bú. Hắn loạng choạng, mất thế. Xinh Nhã vung gậy đánh xuống một đòn nặng như sấm. Gia Rơ Bú ngã quỵ trên mặt đất đỏ và không đứng dậy nữa. Món nợ máu của cha, chàng đã đòi xong.
Gió lặng dần. Xinh Nhã chạy vào giữa đám nô lệ, gọi tên mẹ. Một người đàn bà gầy guộc, tóc đã điểm bạc, bước ra. Bà nhìn chàng rất lâu, nhìn đôi mắt, cái trán, dáng đứng giống hệt người chồng năm xưa. Rồi bà ôm chầm lấy con, khóc không thành tiếng. Đứa bé đỏ hỏn năm nào giờ đã thành người tráng sĩ. Chàng tháo dây trói cho mẹ, rồi tháo dây trói cho tất cả những người bị Gia Rơ Bú bắt về. Họ là người của buôn chàng, của bao nhiêu buôn khác, giờ được về quê cha đất tổ.
Xinh Nhã đưa mẹ cùng dân làng trở về. Họ mang theo chiêng ché, dắt theo trâu bò bị cướp năm nào. Trên nền nhà cũ, dân buôn cùng nhau dựng lại một ngôi nhà dài mới, cột to, kèo chắc, cầu thang khắc đôi bầu vú như xưa. Ông bà Xinh Yuê cũng được rước về ở cùng, ngồi bên bếp lửa ấm nhất. Đêm ấy, rượu cần được mở, chiêng đồng vang suốt đêm, các cô gái múa dưới ánh lửa. Người già kể cho con cháu nghe chuyện chàng Xinh Nhã đi qua núi rừng, mang sức mạnh của giông gió, trả thù cho cha, cứu mẹ và đem lại yên vui cho buôn làng. Và câu chuyện ấy được kể mãi, tới tận bây giờ.